Bí quyết ôn tập và làm bài cá nhân

BÍ QUYẾT ÔN TẬP VÀ LÀM BÀI CÁ NHÂN

I. Dạng bài tập cá nhân – bài nhóm – bài học kỳ

1. Bài cá nhân

1.1. Bài cá nhân trên lớp

- Kỹ năng ôn và làm bài cá nhân

- Một số ví dụ về cách ôn và kỹ năng viết trong vòng < 35p

NỘI DUNG

I. Dạng bài tập cá nhân – bài nhóm – bài học kỳ

1. Bài cá nhân

1.1. Bài cá nhân kiểm tra trên lớp

Vai trò của bài cá nhân: Hẳn chúng ta đều hiểu điểm bài cá nhân ngày càng có ảnh hưởng sát sườn tới điểm tổng kết cuối cùng của mỗi môn, nhất là đối với những môn chỉ có một bài cá nhân duy nhất. Thế nên, nếu mỗi môn học chỉ còn bài 1 bài cá nhân, 1 bài nhóm, 1 bài học kỳ thì nên có phấn đấu đạt 8 điểm trở nên cho mỗi loại bài. Mình khẳng định, 8 điểm đối với bài cá nhân không phải là quá đánh đố các bạn nếu như các bạn có phương pháp ôn và làm bài đúng đắn.

Các dạng bài cá nhân:

Bán trắc nghiệm Đúng – Sai, giải thích tại sao? (Thường có ở Bộ môn Luật dân sự, hình sự…)

Câu hỏi lý thuyết (Thường rơi vào môn Đường lối Cm, Tư tưởng Hồ Chí Minh…)

1.1.1. Cách ôn tập

Bước 1: Xác định thời gian ôn bài cá nhân, nghe có vẻ to tát nhưng thực ra đây là lúc các bạn dành thời gian xem nhanh lại mình đã học được mấy chương, nội dung cùa các chương là gì. Việc làm này rất quan trọng, bởi nếu không nắm được mình đã học những gì thì không thể mong làm bài khá được. Với bước này, bạn nên làm cách đó 1 tuần học. Ví dụ, tiết 9, 10 thứ 3 có kiểm tra cá nhân trên lớp, thì nếu không ôn bài cẩn thận thì chí ít bạn cũng nên chịu khó biết lịch kiểm tra cách đó 1 tuần để có thời gian chuẩn bị và xem qua những phần đã học.

Bước 2: Sau khi mở được quyển giáo trình, quyển luật ra rồi thì bạn chịu khó xâu chuỗi lại kiến thức để biết chắc nội dung kiểm tra được giới hạn. Thông thường, tuần thứ 5 trở ra sẽ có bài kiểm tra cá nhân đầu tiên (hồi mình học kiểm tra 2 bài với môn 15 tuần). Như vậy, sẽ có khoảng 5 chương cần xem lại nhưng nếu bạn đã chú ý trên lớp rồi thì việc xâu chuỗi lại kiến thức không quá khó.

Cách hệ thống lại kiến thức là??? Để xâu chuỗi lại kiến thức đơn giản mà khái quát được những gì đã học thì mình khuyên bạn nên dẹp quyển giáo trình sang một bên và mở văn bản luật ra trước, hoặc nếu bạn nào chịu khó ghi chép thì sử dụng vở ghi cũng rất hữu ích. Giáo trình rất dày, đừng bê giáo trình ra ngồi tụng vô ích trong khi bạn có thể có điểm như ý nếu thực sự hiểu quy định trong văn bản luật.

          Dưới đây là từng dạng bài cá nhân cụ thể:

a. Bán trắc nghiệm Đúng – Sai, giải thích tại sao?

          Với dạng bài này, bạn nên xác định rõ ràng từng loại kiểm tra.

Môn có cho bộ câu hỏi ôn tập

Môn không cho trước câu hỏi ôn tập

Chúc mừng bạn vì bạn đã được giới hạn ôn tập. Khả năng cao là sẽ 8đ trở lên.

B1. ÔN THEO VẤN ĐỀ - KHÔNG ÔN THEO CÂU HỎI.

- Dùng bút đỏ khoanh tròn những câu có nội dung hỏi rơi cùng một chương. Việc làm này giúp bạn vừa nắm được vấn đề cần ôn vừa tiết kiệm thời gian mở sách hết chương này lại quay sang chương nọ.

VD: Cùng hỏi về Đương sự trong Tố tụng dân sự nhưng các vấn đề như: Độ tuổi, năng lực hành vi, quyền và nghĩa vụ sẽ được rải thành các câu khác nhau. Việc của bạn là đánh dấu và tổng hợp các câu cùng vấn đề thành một chương và ôn theo chương.

B.2. SỬ DỤNG BỘ LUẬT, VB LUẬT, CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN LUẬT MỘT CÁCH CHỦ ĐỘNG – TẬP NHỚ CÁC ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN HAY ĐỘNG TỚI.

- Khi mình còn học, có những môn không được sử dụng văn bản luật mà chỉ độc một bộ luật, thậm chí có môn Luật hình sự còn không cho sử dụng Luật mà chỉ có giấy và bút để làm bài. Vì thế, để vượt qua tình huống này là các bạn phải ôn bài thật sự, nếu có câu hỏi sẵn thì sau khi làm B1, bước này các bạn trả lời và tìm đọc thêm tài liệu trong giáo trình, sách tham khảo, nhất định nhớ lâu. Không nên học vẹt, khi ôn tập thì hết sức tập trung, còn nếu không thì không nên mất thời gian mở sách. Hi

B3. TRAO ĐỔI VỚI BẠN BÈ, TÌM CÁCH HỎI THẦY CÔ.

- Cách làm này được sinh viên thế hệ mình áp dụng triệt để. Những hôm thảo luận, gặp được thầy cô mát tính cho phép hỏi nhiều, mấy đứa dành thời gian xem lại bộ câu hỏi cho trước, rồi chia nhau ra biến tấu đi, xong hỏi thầy cô. May mắn được thầy cô trả lời cho, tha hồ học nhàn luôn.

- Giờ thảo luận trước khi kiểm tra nên bớt chém gió mà tập trung hỏi bạn bè tất tần tật các câu hỏi. Mấy đứa thống nhất Đúng – Sai với nhau để khi làm bài khả năng đúng cao hơn.

- Không nên tự kỷ học một mình vì học đại học là phải biết mở rộng kiến thức qua nhiều kênh. Chúc các em may mắn.

 

Chúc mừng bạn vì bạn đã có ý thức phải dành thời gian xem bài kỹ hơn. Hi

B1. TỰ GIỚI HẠN PHẦN BÀI CẦN XEM LẠI.

- Những môn kiểm tra kiểu này có thể cho sinh viên sử dụng giáo trình, vở viết hoặc không. Nhưng thường thì thầy cô sẽ cho dùng giáo trình. Việc của chúng ta là tự giới hạn các chương để ôn dần.

B2. TỰ TẠO VẤN ĐỀ ĐỂ ÔN TẬP VÀ NGHIÊM TÚC HOÀN THÀNH ĐỀ CƯƠNG ĐÓ.

- Các bạn đừng quá lo sợ là phải ôn tập nhiều. Chúng ta thường quên đi một tài liệu rất hữu ích đó là Đề cương môn học. Để ôn tập đơn giản thì Đề cương môn học chính là tài liệu vàng để chúng ta tự xác định nên học gì và không cần học gì.

- Các bạn hãy chọn những nội dung ghi từ phần BẬC 2 trở lên để note vào và ôn tập. Thông thường những nội dung cần đạt từ Bậc 2 trong đề cương chính là cơ sở để thầy cô ra đề.

VD: Trong đề cương môn ĐLCM năm 2015 mình vừa tham khảo thì có nêu hệ thống vấn đề và yêu cầu trong từng chương, chúng ta có thể dựa vào đó để phỏng đoán câu hỏi và ôn tập:

2B1. Giải thích rõ điều kiện thế giới và trong nước tác động tới Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước” Từ đây có thể có các câu hỏi, vd: Phân tích các điều kiện đã ảnh hưởng tới việc Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước.

B3. GHI CHÚ NHỮNG ĐIỀU CẦN NHỚ.

- Sau khi miệt mài xây dựng câu hỏi và ôn tập, việc của các bạn là khéo léo note những phần cần nhớ, hoặc một số câu nói hay có liên quan tới bài học vào giáo trình hoặc giấy nháp để nhớ dần và áp dụng vào bài viết.

Bài viết đánh giá khả năng viết và kiến thức của các bạn nên chúng ta đừng ngần ngại tìm cách làm bài của mình có chút khác biệt so với các bạn để gây thiện cảm với người chấm.

B4. TRANH THỦ VÀ MẠNH DẠN HỎI THẦY CÔ NHỮNG PHẦN CHƯA RÕ, HOẶC HỎI PHẦN NÀO NÊN TẬP TRUNG.

- Cách này là cách sau cùng để chúng ta thêm tự tin mà thôi. Nếu các bạn làm theo các bước mình đưa ra thì mình nghĩ các bạn sẽ đạt được số điểm như mong muốn

 

1.1.2. Cách làm bài trên lớp.

Thông thường các bạn có không quá 35 phút cả chép đề và làm bài. Vì thế sẽ rất có lợi thế với những bạn đã ôn bài và có khả năng viết nhanh. Số câu hỏi đưa ra thường là 2 và nên dành thời gian suy nghĩ hoặc nháp qua bài 3p. Việc vạch ý ra giấy không bao giờ là thừa. Đừng chủ quan và quá tự tin vì nghĩ mình đã biết đáp án rồi nên viết một mạch. Người giỏi là người biết nghĩ thấu đáo, dành thời gian gạch ý ra giấy cân nhắc lựa chọn trình bày ý nào trước, ý nào sau có như vậy bài làm mới logic. Hơn nữa đề phòng trường hợp đang viết lại nảy sinh ý mới mà không còn chỗ để trình bày như thế rất thiệt thòi.

Sau khi dành 3p gạch ý trước nên chọn câu dễ để làm vào giấy thi. Điều này cũng rất quan trọng, vì sao? Việc chọn câu mà bạn nghĩ bạn sẽ trình bày trôi chảy để làm trước sẽ gây ấn tượng đối với người chấm. Có thể người chấm nhìn đáp án và xem lướt câu 1 của bạn là hiểu cách triển khai ý trong toàn bài rồi. VÌ thế nếu thể hiện sự mạch lạc và logic ngay từ những dòng đầu tiên thì sẽ tăng thêm cơ hội đạt điểm khá. Lưu ý khi trình bày câu trả lời:

Với câu hỏi bán trắc nghiệm: Trước hết cần đưa ra câu khẳng định “Đáp an A là sai, hoặc A: Sai, vì”, mình nghĩ đây là cách làm khoa học mà các thầy cô cũng đã hướng dẫn chúng ta, các bạn nên áp dụng triệt để vì sự ngắn gọn mà mạch lạc sẽ được đánh giá cao. Nên trả lời mỗi câu hơn 1 nửa trang A4, tránh viết quá dài. Trong phần giải thích tại sao nên chia thành 3 đoạn như sau:

“ Khẳng định A sai vì:

Đoạn 1: Nêu quy định của pháp luật liên quan tới vấn đề này để câu trả lời có cơ sở pháp lý (Theo Điểm c, Khoản 1, Điều 28 về...quy định trong Luật Đất đai thì...) nên trích dẫn ngắn gọn, tránh chép điều luật. Sau khi nêu xong thì dùng từ “Theo đó” rồi nêu ý chính của quy định, tìm cách móc nối với câu khẳng định trong bài, VD: Theo quy định này thì...

Đoạn 2: Phân tích ngắn gọn khẳng định trong bài đưa ra là ĐÚng hay Sai so với quy định pháp luật mà ta nêu ở Đoạn 1. Trong khẳng định đề bài đưa ra thì vấn đề chưa đúng ở chỗ nào? Hoặc đúng với quy định của pháp luật vì sao. Nên sử dụng các từ như: Xem xét khẳng định A thấy rằng; hoặc Từ đó nhận thấy khẳng định A là; hoặc dùng tư Tuy nhiên khẳng định A...

Đoạn 3: Dành thời gian nêu lý do vì sao pháp luật lại quy định như vậy (khoảng 3 dòng) để thể hiện kiến thức khá sâu của người viết. Phần này các thầy cô dạy Tố tụng dân sự cũng hay yêu cầu sinh viên phải làm được chứ không chỉ dừng lại ở việc giải thích đúng sai. Ví dụ: Qua phân tích thấy rằng việc pháp luật quy định như vậy là nhằm...điều này là hợp lý, là ý nghĩa...Việc sinh viên đưa ra được ý kiến cá nhân cũng giúp thầy cô phần nào tin rằng sinh viên thực sự học và hiểu.

          Làm được cấu trúc như vậy các bạn sẽ yên tâm khi dừng bút. Với những câu bán trắc nghiệm đơn giản nhằm đánh giá hiểu biết về một quy định trong văn bản luật thì các bạn có thể triển khai theo hai đoạn là đủ. Tuy nhiên, không có gì là đơn giản cả. Cần phải thực sự dành thời gian cho việc học và đọc tài liệu thì mới có thể viết một cách trôi chảy. Chúc các bạn thành công.

Câu mẫu: “ Đối với yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì chỉ Tòa án nơi phòng công chứng, văn phòng công chứng đã thực hiện công chứng có trụ sở mới có thẩm quyền giải quyết”. (Đề cá nhân Tố tụng dân sự năm 2014)

Là khẳng định Sai.

Giải thích

  Trước hết về vấn đề thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại Khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011). Với thẩm quyền đưa ra tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì Điểm m Khoản 2 Điều 35 quy định: “Tòa án nơi Phòng công chứng, Văn phòng công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”. Tuy nhiên, pháp luật không hạn chế quyền lựa chọn của người yêu cầu khi quy định tại Khoản 2 Điều 36 Bộ luật dân sự 2004 các trường hợp người yêu cầu có thể lựa chọn Tòa án giải quyết cho vấn đề của mình. Cụ thể, Điểm a Khoản 2 Điều này nêu rõ: “ Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 2, 3,4,6 và 7 Điều 26 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết”. Như vậy, ngoài trường hợp xác định Tòa án nơi Văn phòng công chứng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu văn bản công chứng vô hiệu thì Tòa án nơi người yêu cầu cư trú, làm việc, có trụ sở cũng có thẩm quyền giải quyết khi người yêu cầu sử dụng quyền lựa chọn của mình.

Xét khẳng định trong đề bài có thể thấy khẳng định này chưa đúng và chưa đầy đủ khi sử dụng từ “chỉ” để xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Việc pháp luật có quy định mở là trao quyền cho người yêu cầu được lựa chọn nơi Tòa án giải quyết việc dân sự của mình là đáp ứng nhu cầu thực tế. Có thể thấy một văn bản bị vô hiệu sẽ dẫn tới hậu quả pháp lý bất lợi cho các bên, vì thế ngay khi phát hiện văn bản có dấu hiệu vô hiệu thì việc giải quyết kịp thời là điều cần thiết. Hơn nữa, thực tế nơi Văn phòng công chứng đã công chứng văn bản này có thể cách xa nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu. Vì thế, việc pháp luật quy định Tòa án nơi người yêu cầu cư trú, làm việc sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho người có nhu cầu, tiết kiệm thời gian, chi phí để giải quyết việc dân sự.

DOWNLOAD BÍ QUYẾT ÔN TẬP VÀ LÀM BÀI CÁ NHÂN TẠI ĐÂY                                                

Admin
14:50 14/4/2017
32618