Quy định của Pháp luật về quản lý vũ khí trong tình hình mới

Trước diễn biến phức tạp của tội phạm sử dụng dao, mã tấu, kiếm và vũ khí tự chế, pháp luật về quản lý vũ khí đã được sửa đổi theo hướng chặt chẽ hơn ở cả ba bình diện: quản lý chuyên ngành, xử lý vi phạm hành chính và xử lý hình sự.

1. Quy định pháp luật hiện hành về quản lý vũ khí

Về quản lý nhà nước đối với vũ khí

Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (Luật số 42/2024/QH15) ngày 29/6/2024 có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, thay thế Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, sửa đổi, bổ sung năm 2019. Điểm mới đáng chú ý là quy định về “dao có tính sát thương cao”. Theo khoản 6 Điều 2 Luật số 42/2024/QH15 quy định, “dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành”. Tư cách pháp lý của loại dao này phụ thuộc vào mục đích sử dụng: theo điểm d khoản 2 Điều 2, dao có tính sát thương cao là vũ khí quân dụng khi được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật; theo điểm b khoản 4 Điều 2, loại dao này là vũ khí thô sơ khi được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ, trừ trường hợp thuộc điểm d khoản 2 Điều 2. Tại Điều 4, quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.

Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật số 42/2024/QH15 ban hành kèm theo các danh mục vũ khí quân dụng (Phụ lục I), vũ khí thể thao (Phụ lục II), vũ khí thô sơ (Phụ lục III), công cụ hỗ trợ (Phụ lục IV) và dao có tính sát thương cao (Phụ lục V) theo khoản 1 Điều 6. Phụ lục V phân nhóm dao sắc, nhọn; dao sắc; dao gấp, dao bấm; dao tự chế hoặc hoán cải, kèm tiêu chí về cấu tạo và kích thước.

Về xử lý vi phạm hành chính

Trên cơ sở Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025 (Luật số 88/2025/QH15), Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình có hiệu lực từ ngày 15/12/2025, thay thế Nghị định số 144/2021/NĐ-CP. Tại Điều 12, mức phạt cao nhất từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng (khoản 5) áp dụng đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí thô sơ, vũ khí quân dụng và hành vi mang trái phép vũ khí vào nơi công cộng, khu vực cấm, kèm hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm… Điều 14 Nghị định, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, lần đầu quy định riêng các vi phạm về biện pháp bảo đảm an toàn trong sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, sử dụng dao có tính sát thương cao, trong đó điểm b khoản 1 xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi mang dao có tính sát thương cao vào nơi công cộng mà không bọc hoặc cất giữ an toàn.

Về xử lý hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 quy định tại Điều 304 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Tội phạm này thuộc Mục 3 Chương XXI “Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”, với khách thể trực tiếp là chế độ quản lý của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng. Đối với vũ khí thô sơ, Điều 306 Bộ luật hình sự đặt ra chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi người thực hiện hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Tình tiết “dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm” là tình tiết định tội, định khung tại Điều 134. Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các điều từ Điều 304 đến Điều 308 Bộ luật Hình sự. Sau khi Luật số 42/2024/QH15có hiệu lực, các cơ quan tư pháp trung ương đã ban hành hướng dẫn nghiệp vụ, gồm Công văn số 2982/VKSTC-V14 ngày 30/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc trao đổi quan điểm giải quyết vụ việc, vụ án khi Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 có hiệu lực thi hành; Công văn số 4442/C01-P2 ngày 18/7/2025 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an của hướng dẫn giải quyết vướng mắc khi Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024; và Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các văn bản trên không phải là văn bản quy phạm pháp luật và chỉ là công văn hướng dẫn của các cơ quan để áp dụng thông nhất quy định pháp luật trong ngành.

2. Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

Thứ nhất, vướng mắc trong xác định mối quan hệ giữa Điều 304 Bộ luật Hình sự với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe và trật tự công cộng.

Do Điều 304 có tính độc lập nhất định với hậu quả xâm phạm tính mạng, sức khỏe, người dùng “dao có tính sát thương cao” để gây thương tích có thể bị truy cứu đồng thời về hai tội nếu thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành của từng tội.

Nếu yếu tố “dùng vũ khí” vừa là tình tiết định tội, định khung của Tội cố ý gây thương tích, vừa là căn cứ xác định tội theo Điều 304 thì cùng một hành vi bị đánh giá hai lần; tình trạng này đã xuất hiện ở các vụ gây thương tích 10%, 24% và gây rối trật tự công cộng. Nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” tại Điều 14 Bộ luật Tố tụng hình sự cần được phân biệt với trường hợp một hành vi xâm phạm nhiều khách thể. Ranh giới giữa điểm d khoản 2 và điểm b khoản 4 Điều 2 Luật số 42/2024/QH15 cũng chưa rõ: cùng một con dao, nếu dùng để gây thương tích thì là vũ khí quân dụng và có thể bị xử lý theo Điều 304, nhưng nếu dùng để gây rối, chống người thi hành công vụ thì là vũ khí thô sơ, chỉ bị xử lý hình sự theo Điều 306 khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính trước đó. Ngoài ra, khi bị hại rút yêu cầu khởi tố theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, vụ án về Tội cố ý gây thương tích có thể bị đình chỉ, nhưng điều đó không làm mất căn cứ xem xét trách nhiệm độc lập theo Điều 304.

Thứ hai, vướng mắc trong xác định trách nhiệm hình sự khi không thu giữ được hung khí.

Khi người phạm tội vứt bỏ, tiêu hủy con dao, cơ quan tiến hành tố tụng không có vật chứng để giám định, nên khó xác định công cụ có thuộc Phụ lục V hay không, trong khi tính chất vũ khí quân dụng là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm theo Điều 304. Chưa có hướng dẫn thống nhất về đánh giá chứng cứ trong trường hợp này, dẫn đến hai xu hướng: quá phụ thuộc vào vật chứng nên bỏ lọt tội phạm, hoặc suy diễn từ hậu quả thương tích để coi công cụ là vũ khí quân dụng.

Thứ ba, vướng mắc trong xác định thẩm quyền điều tra.

Tội giết người, cố ý gây thương tích thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, còn tội theo Điều 304 thuộc thẩm quyền của Cơ quan An ninh điều tra theo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015. Khi một người bị khởi tố đồng thời về hai nhóm tội, việc giao toàn bộ vụ án cho một cơ quan đều phát sinh vướng mắc về chuyên môn hoặc thẩm quyền, trong khi Luật chưa có quy định giải quyết trực tiếp tình huống giao thoa này. Liên ngành trung ương đã trao đổi theo hướng có thể tách vụ án nếu không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, song hướng này chưa được thể chế hóa.

Thứ tư, vướng mắc trong xử lý hành vi chuẩn bị “dao có tính sát thương cao”.

Khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định trách nhiệm đối với hành vi chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích, còn Điều 304 điều chỉnh độc lập hành vi liên quan đến vũ khí quân dụng. Theo Công văn số 01/TANDTC-PC, trường hợp chuẩn bị “dao có tính sát thương cao” nhằm gây thương tích thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304, không đồng thời truy cứu theo khoản 6 Điều 134, bởi hành vi này trước hết xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về vũ khí. Do công văn không có giá trị bắt buộc như văn bản quy phạm pháp luật, cách hiểu này vẫn có thể được vận dụng khác nhau giữa các địa phương, nhất là trong vụ án đồng phạm.

Thứ năm, vướng mắc trong xác định trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh dao.

Cần phân biệt hoạt động sản xuất, kinh doanh dao phục vụ sinh hoạt, lao động hợp pháp với hành vi cung cấp công cụ nhằm phục vụ phạm tội. Quy kết trách nhiệm cho người bán chỉ vì người mua dùng dao phạm tội sẽ hình sự hóa hoạt động kinh doanh hợp pháp; ngược lại, nếu người cung cấp biết rõ mục đích phạm tội và có sự câu kết, giúp sức thì phải xem xét trách nhiệm tương ứng. Điều 14 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP mới đặt ra nghĩa vụ bảo đảm an toàn trong sản xuất, kinh doanh dao có tính sát thương cao ở mức xử phạt hành chính, còn hướng dẫn về căn cứ xác định lỗi và mục đích của người cung cấp trong trách nhiệm hình sự vẫn còn thiếu.

Thứ sáu, vướng mắc về số lượng vũ khí và xử lý vũ khí tự chế.

Điều 304 chưa quy định số lượng tối thiểu đối với một số loại vũ khí quân dụng để phân biệt với vi phạm hành chính, trong khi điểm c khoản 5 Điều 12 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP cũng xử phạt hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Đối với vũ khí chế tạo không theo tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà sản xuất hợp pháp, việc xác định số lượng để định khung cũng chưa thống nhất. Chẳng hạn, Bùi Văn M tự chế 10 khẩu súng được giám định là vũ khí quân dụng; có quan điểm cho rằng do Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP chưa quy định số lượng đối với loại vũ khí này nên chỉ xử lý theo khoản 1 Điều 304, quan điểm khác cho rằng có thể vận dụng định lượng của các loại vũ khí khác. Khi chưa có quy định rõ, không được suy diễn theo hướng bất lợi cho người bị buộc tội.

3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về quản lý vũ khí cần bảo đảm sự đồng bộ giữa Luật năm 2024, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, hướng tới quản lý chặt chẽ vũ khí mà không hình sự hóa quá mức hay chồng lấn trách nhiệm. Việc Quốc hội đang xem xét dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) và dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) tạo cơ hội để giải quyết các vướng mắc nêu trên ở tầm luật.

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện và thống nhất hướng dẫn áp dụng Điều 304 Bộ luật Hình sự trong mối quan hệ với các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe và trật tự công cộng.

Nội dung của Công văn số 01/TANDTC-PC và các công văn nghiệp vụ liên ngành cần được nâng lên thành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP. Nghị quyết cần hướng dẫn cụ thể mối quan hệ giữa Điều 304 với Điều 123, Điều 134 và các điều luật liên quan, xác định trường hợp nào truy cứu hai tội, trường hợp nào chỉ xử lý một tội, và cách tính tình tiết định tội, định khung để yếu tố “dùng vũ khí” không bị sử dụng lặp lại. Đồng thời, cần làm rõ tiêu chí phân biệt mục đích sử dụng dao giữa điểm d khoản 2 và điểm b khoản 4 Điều 2 Luật năm 2024. Đối với hành vi chuẩn bị “dao có tính sát thương cao”, cần quy định thống nhất theo hướng chỉ xử lý theo Điều 304; trường hợp đồng phạm thì phân hóa trách nhiệm theo vai trò, lỗi và mục đích của từng người.

Thứ hai, cần hoàn thiện quy định về thẩm quyền điều tra đối với những vụ án có sự giao thoa giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cơ quan An ninh điều tra.

Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) cần bổ sung nguyên tắc xác định thẩm quyền đối với vụ án có nhiều tội danh thuộc thẩm quyền của các cơ quan điều tra khác nhau. Theo đó, vụ án được tách khi không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan; nếu không thể tách thì quy định rõ cơ quan chủ trì, cơ chế phối hợp và chuyển giao hồ sơ.

Thứ ba, cần hoàn thiện cơ chế đánh giá chứng cứ đối với trường hợp không thu giữ được hung khí.

Hướng dẫn cần khẳng định việc không thu giữ được vật chứng không loại trừ khả năng chứng minh tội phạm, nhưng không được lấy hậu quả thương tích hoặc lời khai đơn lẻ làm căn cứ duy nhất để xác định công cụ là vũ khí quân dụng. Việc chứng minh phải dựa trên tổng hợp lời khai, dữ liệu camera, hình ảnh và kết luận giám định thương tích.

Thứ tư, cần hướng dẫn trách nhiệm pháp lý của người sản xuất, kinh doanh dao.

Cần hướng dẫn rõ căn cứ xác định đồng phạm đối với người cung cấp dao, trong đó yêu cầu chứng minh người cung cấp biết rõ mục đích phạm tội của người nhận. Song song, cơ quan Công an cần hướng dẫn cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn theo Điều 14 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, coi đây là biện pháp phòng ngừa từ sớm thay cho việc mở rộng trách nhiệm hình sự.

Thứ năm, cần rà soát, bổ sung quy định về số lượng tối thiểu của vũ khí quân dụng làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự và định khung hình phạt.

Cần quy định cụ thể số lượng vũ khí tự chế làm căn cứ phân định các khung hình phạt của Điều 304, đồng thời xác định ngưỡng phân biệt giữa xử phạt theo Điều 12 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP với truy cứu trách nhiệm hình sự, bảo đảm tính minh bạch và dự liệu được của pháp luật.

Việc hoàn thiện pháp luật phải hài hòa giữa yêu cầu quản lý chặt chẽ vũ khí với bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Lê Văn Đại - Khoa Luật, Học viện An ninh nhân dân.

Related Posts

Trách nhiệm pháp lý trong cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử theo Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử

Trách nhiệm pháp lý trong cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử theo Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử

Dự thảo Luật An ninh dữ liệu: Khung pháp lý mới về bảo đảm an ninh dữ liệu

Dự thảo Luật An ninh dữ liệu: Khung pháp lý mới về bảo đảm an ninh dữ liệu

Quy định về luật sư công tại Việt Nam - tư duy mới trong hoàn thiện thể chế tư pháp và bảo vệ tài sản công

Quy định về luật sư công tại Việt Nam - tư duy mới trong hoàn thiện thể chế tư pháp và bảo vệ tài sản công

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số