Những điểm mới cần chú ý của Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật

Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, được thực hiện trong ba năm [1, Điều 12]. Nghị quyết là sự thể chế hóa chủ trương khuyến khích sáng tạo vì lợi ích chung, xử lý nghiêm tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và không hình sự hóa các quan hệ kinh tế. Các định hướng cụ thể gồm: phân định trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự, ưu tiên biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ; chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung khi không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi theo Nghị quyết số 79-NQ/TW . Bên cạnh đó, Thông báo số 18/TB-VPCP ngày 09/01/2026 đề cập việc tháo gỡ vướng mắc về dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án.

Nghị quyết áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm pháp luật về hình sự và kỷ luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh vì lợi ích chung. Khi Nghị quyết hết hiệu lực, các quyết định tạm đình chỉ, hoãn và việc chưa xem xét kỷ luật chưa hết thời hạn vẫn tiếp tục thực hiện đến khi kết thúc. Một số nội dung đáng chú ý của Nghị quyết 37/2026/QH16 được thể hiện ở:

Thứ nhất, về nguyên tắc ưu tiên biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính.

Việc xử lý phải bảo đảm khách quan, toàn diện; xem xét kỹ vai trò, động cơ, mục đích của người vi phạm, bối cảnh lịch sử cụ thể, hậu quả thiệt hại, kết quả khắc phục và hiệu quả kinh tế – xã hội; phân định rõ trách nhiệm hình sự, hành chính, dân sự, trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân; ưu tiên biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính, xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng; đồng thời xử lý nghiêm hành vi tham nhũng [1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3]. Nghị quyết không dùng để xem xét lại bản án hình sự, quyết định xử lý kỷ luật đã có hiệu lực pháp luật; hành vi lợi dụng chính sách để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che vi phạm phải bị xử lý nghiêm [1, khoản 5 và khoản 6 Điều 3].

Thứ hai, xây dựng một số khái niệm làm căn cứ áp dụng.

Theo Điều 4, “không tham nhũng” phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác kết luận bằng văn bản; “vì lợi ích chung” là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, ngành, lĩnh vực, địa phương, không vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, không có động cơ vụ lợi [1, khoản 1 và khoản 2 Điều 4]. “Hậu quả thiệt hại” là hậu quả vật chất; “hiệu quả kinh tế – xã hội” được xác định qua tăng trưởng, thu hút đầu tư, tạo việc làm, hạ tầng và an sinh xã hội [1, khoản 3 và khoản 5 Điều 4].

Thứ ba, các điều kiện không truy cứu và miễn trách nhiệm hình sự

Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự được áp dụng khi đáp ứng đồng thười năm điều kiện sau: (i) không tham nhũng; (ii) vì lợi ích chung; (iii) hoạt động đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho địa phương, đất nước; (iv) không phát sinh khiếu nại, tố cáo hợp lệ hoặc có nhưng đã được giải quyết dứt điểm, thể hiện bằng thông báo chấm dứt thụ lý, giải quyết hoặc văn bản có hiệu lực thuộc lĩnh vực tư pháp [1, khoản 6 Điều 4]; (v) không gây thất thoát, lãng phí tài sản hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại [1, Điều 5]. Các điều kiện này mang tính tích lũy, không thể chỉ căn cứ vào một điều kiện.

Quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp được nêu ra ở Điều 5 được giao cho cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình tố tụng. Bên cạnh đó theo Điều 9, tùy giai đoạn, Cơ quan điều tra quyết định không khởi tố vụ án hoặc đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo [1, Điều 8; khoản 1 và khoản 2 Điều 9].

Thứ tư, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Việc loại trừ trách nhiệm hình sự trong hai trường hợp được quy định tại Điều 6. Một là, người gây thiệt hại do gặp rủi ro mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy định và áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa; rủi ro tự nó chưa đủ; Hai là, người thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao gây thiệt hại khi chưa có pháp luật điều chỉnh hoặc quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, với cách làm xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, có tính đột phá, tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt. Trường hợp này chỉ áp dụng khi đồng thời không tham nhũng, vì lợi ích chung, hoạt động đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

Thứ năm, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả.

Đối với hoạt động đang thực hiện, chưa hoàn thànhcho phép tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đầy đủ điều kiện: vì lợi ích chung; gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng; chưa khắc phục được do nguyên nhân khách quan, song có điều kiện, khả năng, phương án khả thi để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội; có cam kết khắc phục [1, Điều 7].

Cơ quan tiến hành tố tụng ban hành quyết định tạm đình chỉ tương ứng với giai đoạn tố tụng; ở giai đoạn xét xử, Tòa án còn có thể hoãn phiên tòa. Thời hạn tạm đình chỉ tối đa là hai năm, không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự [1, khoản 3 Điều 9]. Hết thời hạn, nếu đã khắc phục toàn bộ hậu quả thì không khởi tố vụ án hoặc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; nếu chưa thì thực hiện thủ tục theo Bộ luật Tố tụng hình sự, căn cứ tỷ lệ khắc phục và hiệu quả kinh tế – xã hội để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự [1, khoản 4 Điều 9]. Nếu không khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết mà không có lý do chính đáng, quyết định tạm đình chỉ bị hủy bỏ để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự [1, khoản 5 Điều 9].

Thứ sáu, chính sách đối với người đã có bản án.

Người đã có bản án chưa có quyết định thi hành án, nếu đủ căn cứ tại Điều 7, được Tòa án hoãn chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; thời hạn tối đa là hai năm [1, khoản 1 và khoản 4 Điều 10]. Hết thời hạn, người đã khắc phục toàn bộ hậu quả được miễn chấp hành hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại; nếu chưa khắc phục hết, Tòa án quyết định thi hành hoặc tiếp tục thi hành án, căn cứ tỷ lệ khắc phục để giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt [1, khoản 2 và khoản 4 Điều 10]. Người đáp ứng điều kiện tại Điều 5 hoặc Điều 6 được miễn chấp hành hình phạt tù hoặc phần hình phạt còn lại; người đã chấp hành xong bản án, chưa xóa án tích thì được miễn thời gian thử thách và đương nhiên được xóa án tích [1, khoản 3 và khoản 5 Điều 10].

Thứ bảy, miễn kỷ luật và chưa xem xét xử lý kỷ luật.

Người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật nhưng đáp ứng điều kiện tại Điều 5 hoặc Điều 6 được xem xét miễn kỷ luật; người đáp ứng điều kiện tại Điều 7 được xem xét chưa xử lý kỷ luật để khắc phục hậu quả, tối đa hai năm, không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật. Hết thời hạn, nếu đã khắc phục toàn bộ hậu quả thì xem xét miễn kỷ luật; nếu không thì xử lý kỷ luật, giảm nhẹ theo tỷ lệ khắc phục [1, Điều 11].

Một số nội dung cần chú ý khi tổ chức thực hiện

Ngày 02/10/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1916/QĐ-TTg kèm Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết. Bộ Công an chủ trì xây dựng thông tư liên tịch của các cơ quan liên ngành tư pháp Trung ương (tháng 12/2026); Bộ Nội vụ chủ trì sửa đổi, bổ sung quy định xử lý kỷ luật cán bộ, công chức bằng nghị định của Chính phủ (tháng 10/2026); Bộ Công an và Bộ Quốc phòng chủ trì hướng dẫn xử lý kỷ luật đối với người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân (tháng 12/2026) [5, mục II.2, điểm a, b, c].

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 13, Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh và cơ quan tiến hành tố tụng các cấp phải khẩn trương rà soát, lập danh sách, báo cáo các vụ việc, vụ án, bản án thuộc phạm vi Nghị quyết, xảy ra trước ngày Nghị quyết có hiệu lực và còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, còn thời hiệu thi hành án phạt tù. Người đứng đầu các cơ quan này chịu trách nhiệm toàn diện về đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của hoạt động đã triển khai và khả năng khắc phục hậu quả [1, khoản 2 và khoản 3 Điều 13]. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì cung cấp ý kiến chuyên môn về rủi ro, quy trình, biện pháp phòng ngừa và các trường hợp pháp luật chưa điều chỉnh, làm cơ sở áp dụng cơ chế đặc thù đối với từng vụ việc [5, mục II.2, điểm d].

Nghị quyết số 37/2026/QH16 đặt ra các cơ chế xử lý đặc thù nhằm khuyến khích, bảo vệ người năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, đồng thời bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật. Việc tuyên truyền và thực hiện cần bám sát điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục của từng cơ chế; quán triệt yêu cầu xử lý nghiêm tham nhũng và hành vi lợi dụng chính sách để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che vi phạm [1, Điều 3].

Khoa Luật.

Related Posts

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số

Những điểm mới về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Những điểm mới về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự

Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân