Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, công tác bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội và phòng, chống bạo lực gia đình đóng vai trò then chốt nhằm giữ vững kỷ cương, ổn định xã hội. Trước đây, quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong các lĩnh vực này được thực hiện chủ yếu theo Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, sự ra đời của các đạo luật chuyên ngành mới (như Luật Căn cước 2023, Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở 2023, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024, Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 2024...) đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thể chế hóa đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó, Chính phủ đã ban hành hai Nghị định quan trọng: Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình. Nghị định này thay thế Nghị định số 144/2021/NĐ-CP; và Nghị định số 347/2026/NĐ-CP ngày 08/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 169/2025/NĐ-CP, Nghị định số 105/2025/NĐ-CP, Nghị định số 106/2025/NĐ-CP và tại Chương IV sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định của Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.

1. Những điểm mới của Nghị định số 282/2025/NĐ-CP với Nghị định số 144/2021/NĐ-CP

Thứ nhất, tách biệt phạm vi điều chỉnh giữa lĩnh vực An ninh trật tự và Phòng cháy, chữa cháy

Điểm khác biệt căn bản đầu tiên về mặt cấu trúc pháp lý là Nghị định số 282/2025/NĐ-CP không còn tích hợp các hành vi vi phạm về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC & CNCH) như Nghị định 144/2021/NĐ-CP trước đây. Lĩnh vực PCCC & CNCH đã được tách ra quy định tại Nghị định chuyên biệt (Nghị định số 106/2025/NĐ-CP, sau đó tiếp tục được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 347/2026/NĐ-CP). Điều này giúp Nghị định 282/2025/NĐ-CP tập trung chuyên sâu vào 03 nhóm lĩnh vực nòng cốt: An ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng, chống tệ nạn xã hội; và Phòng, chống bạo lực gia đình.

Thứ hai, bổ sung khung xử phạt chi tiết đối với Tàu bay không người lái (UAV) và Phương tiện bay siêu nhẹ

Trước sự phát triển bùng nổ của các thiết bị bay không người lái (Drone, Flycam, UAV), Điều 8 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP (Vi phạm quy định về trật tự công cộng), tại các khoản 2 đến khoản 11, đã xây dựng một hệ thống quy định xử phạt chặt chẽ, đa cấp độ nhằm bảo đảm an toàn không phận và an ninh khu vực mục tiêu: quy định 10 mức phạt tiền, thấp nhất từ 2.000.000 đồng đến cao nhất 40.000.000 đồng.

Thứ ba, lần đầu tiên quy định xử phạt vi phạm về quản lý, sử dụng Dao có tính sát thương cao

Thực hiện Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024, Điều 14 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026) đã thể chế hóa các biện pháp xử phạt VPHC nhằm ngăn chặn việc sử dụng dao có tính sát thương cao vào mục đích trái pháp luật:

+ Phạt tiền từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng: Đối với hành vi mang dao có tính sát thương cao vào nơi công cộng mà không bọc hoặc cất giữ chặt chẽ, an toàn; không thông báo cho cơ quan Công an nơi gần nhất việc mất, thất lạc dao trong quá trình sản xuất, kinh doanh, vận chuyển; hoặc không quản lý chặt chẽ trong sinh hoạt, lao động để người khác lợi dụng vi phạm pháp luật.

+ Phạt tiền từ 2.000.000 đến 4.000.000 đồng: Áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu dao không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đóng tên cơ sở/nhãn hiệu; không bọc kín, đóng thùng sản phẩm hoặc không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn.

Thứ tư, xử phạt toàn diện các hành vi vi phạm về Căn cước, CSDLQG về dân cư và Định danh điện tử (VNeID)

Cụ thể hóa Luật Căn cước 2023, Nghị định 282/2025/NĐ-CP đã bổ sung hệ thống quy định xử phạt mới thích ứng với môi trường chuyển đổi số:

+ Thẻ Căn cước, Căn cước điện tử và Giấy chứng nhận căn cước (Điều 11): Phạt tiền từ 2.000.000 đến 4.000.000 đồng đối với hành vi chiếm đoạt, sử dụng trái phép, tẩy xóa, hủy hoại thẻ căn cước/giấy chứng nhận căn cước của người khác; phạt tiền từ 8.000.000 đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng thẻ căn cước/căn cước điện tử giả, cầm cố, nhận cầm cố, thuê/cho thuê thẻ căn cước.

+ Vi phạm về CSDLQG về dân cư, CSDL Căn cước (Điều 27): Phạt tiền từ 30.000.000 đến 40.000.000 đồng đối với hành vi truy nhập trái phép, làm thay đổi, xóa, hủy, phát tán trái phép thông tin; khai thác, chia sẻ, mua bán, chiếm đoạt dữ liệu công dân hoặc sử dụng trái phép thông tin định danh cá nhân của người khác.

+ Định danh và xác thực điện tử - VNeID (Điều 28): Phạt tiền từ 3.000.000 đến 4.000.000 đồng với hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, cầm cố tài khoản định danh điện tử cá nhân; phạt tiền từ 8.000.000 đến 10.000.000 đồng đối với tài khoản định danh của tổ chức. Đặc biệt, phạt tiền từ 30.000.000 đến 40.000.000 đồng đối với hành vi tạo lập ứng dụng định danh quốc gia giả, cưỡng ép hoặc lừa đảo cá nhân, tổ chức sử dụng ứng dụng định danh quốc gia giả.

Thứ năm, xử phạt các vi phạm liên quan đến Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở

Đáp ứng sự ra đời của Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở 2023, Nghị định 282/2025/NĐ-CP dành riêng Điều 24 và Điều 25 để quy định xử phạt các hành vi xâm phạm đến hoạt động của lực lượng này:

+ Phạt tiền từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng đối với hành vi giả danh lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở (khoản 1 Điều 25).

+ Phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng đối với hành vi xúc phạm, đe dọa, cản trở, chống đối lực lượng này khi đang làm nhiệm vụ (khoản 2 Điều 25).

+ Phạt tiền từ 500.000 đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán, sản xuất trái phép, làm giả trang phục, huy hiệu, phù hiệu, biển hiệu, giấy chứng nhận của lực lượng này (các khoản 1, 2 và 3 Điều 24).

Thứ sáu, mở rộng và siết chặt các quy định xử phạt Phòng, chống bạo lực gia đình

Căn cứ Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP đã có bước tiến lớn khi quy định chi tiết và nghiêm khắc hơn đối với các hành vi bạo lực gia đình:

- Mở rộng đối tượng áp dụng (Điều 7): Quy định xử phạt bạo lực gia đình không chỉ áp dụng giữa các thành viên gia đình hiện tại mà còn mở rộng áp dụng đối với: người đã ly hôn; người chung sống như vợ chồng; cha, mẹ, con riêng, anh, chị, em của người đã ly hôn/chung sống như vợ chồng; người từng có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi.

- Bổ sung, cụ thể hóa các hành vi vi phạm theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022:

+ Bạo lực kinh tế (khoản 1 Điều 44): Phạt tiền từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo tình trạng lệ thuộc; cưỡng ép đóng góp tài chính quá khả năng; chiếm đoạt/hủy hoại tài sản chung hoặc tài sản riêng của thành viên khác.

+ Bạo lực tinh thần & tâm lý (khoản 2 Điều 39; khoản 2, khoản 3 Điều 40): Phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ, phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân nhằm xúc phạm danh dự; cưỡng ép chứng kiến bạo lực. Phạt từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cô lập, giam cầm thành viên gia đình.

+ Bỏ mặc, không chăm sóc (khoản 1 Điều 38): Phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng đối với hành vi bỏ mặc, không nuôi dưỡng phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người khuyết tật, người cao tuổi.

+ Vi phạm cấm tiếp xúc (khoản 1, khoản 2 Điều 53): Phạt tiền từ 500.000 đến 1.000.000 đồng đối với hành vi cố tình đến gần người bị bạo lực trong phạm vi 100m; phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng nếu dùng điện thoại, thư điện tử để thực hiện hành vi bạo lực.

Thứ bảy, chuẩn hóa mức phạt tiền tối đa và cơ chế xác định số lợi bất hợp pháp

- Mức phạt tiền tối đa (Điều 5):

+ Lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình: cá nhân 30.000.000 đồng, tổ chức 60.000.000 đồng.

+ Lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội: cá nhân 40.000.000 đồng, tổ chức 80.000.000 đồng.

+ Lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội: cá nhân 75.000.000 đồng, tổ chức 150.000.000 đồng.

- Cơ chế xác định số lợi bất hợp pháp (Điều 4): Quy định rõ cách tính số lợi thu được bằng tiền (sau khi trừ chi phí hợp pháp), bằng giấy tờ có giá, hoặc bằng tài sản/vật chất khác.

- Thực hiện trên môi trường điện tử (Điều 3 khoản 4): Cho phép áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề dưới dạng điện tử hoặc cập nhật trạng thái trên cơ sở dữ liệu, căn cước điện tử, VNeID.

2. Những điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng của Nghị định số 347/2026/NĐ-CP đối với Nghị định số 282/2025/NĐ-CP

Chỉ sau chưa đầy một năm ban hành Nghị định 282/2025/NĐ-CP, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 347/2026/NĐ-CP ngày 08/09/2026 (có hiệu lực từ 15/09/2026). Tại Chương IV (từ Điều 33 đến Điều 38), Nghị định 347/2026/NĐ-CP đã tiến hành sửa đổi, bổ sung, tinh chỉnh một số điều khoản của Nghị định 282/2025/NĐ-CP nhằm bảo đảm sự đồng bộ cao nhất với quá trình thực thi thực tế:

Nội dung sửa đổi/bổ sung

Quy định tại Nghị định số 282/2025/NĐ-CP

Sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 347/2026/NĐ-CP

Ý nghĩa thực tiễn

Xử phạt vi phạm nhiều lần

Điều 3 khoản 6 quy định nguyên tắc áp dụng xử phạt nhiều lần hoặc một lần kèm tình tiết tăng nặng.

Điều 33 NĐ 347/2026: Sửa đổi, bổ sung danh mục các điểm, điều khoản áp dụng xử phạt một lần kèm tình tiết tăng nặng vi phạm nhiều lần (điểm c khoản 2 Điều 12; điểm e khoản 2, các điểm p, q và t khoản 3, các điểm d và đ khoản 4 Điều 15; các Điều 32, 33 và 36), đồng thời đưa điểm i khoản 2 Điều 15 ra khỏi danh mục.

Tránh việc phân mảnh xử phạt đối với các hành vi vi phạm lặp lại được phát hiện cùng một thời điểm, bảo đảm tính hợp lý khi ra quyết định. Đồng bộ với việc bãi bỏ điểm i khoản 2 Điều 15 tại Điều 38 NĐ 347/2026.

Vi phạm về điều khiển UAV

Điều 8 khoản 2 điểm đ.

Điều 34 NĐ 347/2026: Chuẩn hóa hành vi "Sử dụng tàu bay không người lái hoặc phương tiện bay siêu nhẹ đã được cấp phép bay nhưng điều khiển bay không đúng thời gian, địa điểm, khu vực, tọa độ, giới hạn cho phép".

Phân định rõ ràng giữa hành vi "bay không phép" và “đã được cấp phép bay nhưng điều khiển bay không đúng thời gian, địa điểm, khu vực, tọa độ, giới hạn cho phép".

Vi phạm quy định thông báo lưu trú

Điều 10 (khoản 2 điểm đ, khoản 3 điểm b, khoản 4 điểm d).

Điều 35 NĐ 347/2026: Bổ sung, liệt kê chính xác các loại hình cơ sở gồm "Cơ sở kinh doanh lưu trú, nhà ở tập thể, cơ sở chữa bệnh, cơ sở lưu trú du lịch, cơ sở lưu trú ở khu công nghiệp và các cơ sở khác có chức năng lưu trú" phân loại theo quy mô: 01-03 người, 04-08 người, từ 09 người trở lên.

Đảm bảo tính bao quát, không bỏ sót loại hình lưu trú mới trong khu công nghiệp hay cơ sở chữa bệnh.

Xử phạt bổ sung & Bắt buộc nộp số lợi bất hợp pháp

Điều 15 khoản 7 điểm c, khoản 8 điểm a.

Điều 36 NĐ 347/2026: Sửa đổi cơ cấu áp dụng hình thức tịch thu tang vật/phương tiện và biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp trong quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT. Cụ thể: tịch thu tang vật, phương tiện đối với các điểm b, c và h khoản 3, điểm c khoản 4, điểm b và điểm đ khoản 5; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp đối với các điểm đ, i, k và l khoản 3, các điểm a, d, đ và k khoản 4, điểm b khoản 5 Điều 15.

Tăng cường chế tài kinh tế, triệt phá động cơ trục lợi từ vi phạm kinh doanh dịch vụ ANTT.

Thủ tục đăng ký lại con dấu khi mất/hỏng

Điều 16 khoản 1 điểm a, b.

Điều 37 NĐ 347/2026, sửa đổi điểm a, điểm b khoản 1 Điều 16, thống nhất nghĩa vụ "thực hiện thủ tục đăng ký lại mẫu con dấu" trong cả hai trường hợp: quá 02 ngày làm việc kể từ ngày phát hiện mất Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu bị hỏng.

Thống nhất thủ tục phải thực hiện khi mất hoặc hỏng Giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu, làm rõ căn cứ xác định hành vi vi phạm.

Bãi bỏ các quy định không còn phù hợp

Khoản 2, khoản 3 và khoản 5 Điều 15 NĐ 282/2025.

Điều 38 NĐ 347/2026: Bãi bỏ điểm i, k khoản 2; các điểm m, n, r khoản 3; điểm d khoản 5 Điều 15.

Bãi bỏ các quy định chồng chéo, tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động đầu tư kinh doanh hợp pháp.

Việc nắm vững những điểm mới của Nghị định số 282/2025/NĐ-CP và Nghị định số 347/2026/NĐ-CP là yêu cầu thiết thực đối với các cơ quan thực thi pháp luật cũng như mọi cá nhân, tổ chức, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới./.

 

Hoàng Trọng Vĩnh – Khoa Luật.

Related Posts

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân

Góp ý hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan điều tra: Tinh gọn, chuyên nghiệp và hiệu quả

Góp ý hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan điều tra: Tinh gọn, chuyên nghiệp và hiệu quả

Định hướng sửa đổi, bổ sung luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự góp phần đảm bảo thống nhất, đồng bộ với văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế

Định hướng sửa đổi, bổ sung luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự góp phần đảm bảo thống nhất, đồng bộ với văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế

Luật Đầu tư 2025: Đột phá thể chế và tái định vị chiến lược thu hút đầu tư của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Luật Đầu tư 2025: Đột phá thể chế và tái định vị chiến lược thu hút đầu tư của Việt Nam trong kỷ nguyên mới