Góp ý hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan điều tra: Tinh gọn, chuyên nghiệp và hiệu quả

Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 được ban hành đã xác lập tương đối đầy đủ cơ sở pháp lý về mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên và các chức danh khác. Hiện Luật đang được Bộ Công an trình Quốc hội thông qua với nhiều nội dung sửa đổi toàn diện nhằm khắc phục những bất cập sau hơn 07 năm thi hành, đồng thời bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức mới của các cơ quan trong hệ thống chính trị, nhất là sau khi thực hiện chủ trương không tổ chức Công an cấp huyện.

Sau khi thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy Công an nhân dân theo hướng “tỉnh toàn diện; xã vững mạnh, bám cơ sở”, không tổ chức Công an cấp huyện, mô hình tổ chức cơ quan điều tra đã có sự thay đổi căn bản. Trước ngày 01/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra được tổ chức ở ba cấp (cấp Bộ, cấp tỉnh và cấp huyển); từ ngày 01/3/2025 chuyển sang hai cấp gồm Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, không tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện.

Sự thay đổi này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan điều tra để bảo đảm không chỉ tinh gọn về đầu mối mà còn nâng cao thực chất hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra.

1. Cơ sở của việc hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan điều tra

- Yêu cầu từ chủ trương xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Hoàn thiện tổ chức cơ quan điều tra trước hết xuất phát từ yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Tổng số văn bản của Đảng có chủ trương, đường lối liên quan đến dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) gồm 18 văn bản.

Ngày 25/10/2017, Hội nghị Trung ương 6 khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đề ra nhiệm vụ, giải pháp: “Tiếp tục nghiên cứu, từng bước sắp xếp thu gọn đầu mối cơ quan điều tra đáp ứng yêu cầu công tác điều tra hình sự, phòng, chống tội phạm và phù hợp với tổ chức, hoạt động của viện kiểm sát nhân dân, toà án nhân dân theo tinh thần cải cách tư pháp”. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới xác định nhiệm vụ xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự, trong đó cần “Tiếp tục rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo hướng tinh, gọn, chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao”.

- Yêu cầu phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới của lực lượng Công an nhân dân

Ngày 18/02/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ. Trong đó, Công an các địa phương tổ chức theo hướng sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, được tổ chức, xây dựng theo mô hình Công an địa phương gồm 02 cấp (Công an tỉnh, Công an xã và không tổ chức Công an cấp huyện). Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an nhân dân cũng được tổ chức theo mô hình gồm 02 cấp (Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh) và không tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Trong khi đó, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 vẫn được xây dựng trên nền tảng mô hình tổ chức có Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện.

2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra

Thực tiễn cho thấy hệ thống cơ quan điều tra các cấp đã thực hiện khối lượng công việc tố tụng rất lớn. Theo thống kê, từ 01/01/2018 đến tháng 31/3/2026 các Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tại các bộ, ngành đã tiến hành điều tra 962.075 vụ án hình sự theo các thẩm quyền theo quy định, cụ thể: Các Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân tiến hành điều tra, xử lý 951.885 vụ án/1.370.340 bị can (chiếm 98,94%); các Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Quân đội nhân dân đã tiến hành điều tra, xử lý 9.522 vụ án/11.947 (chiếm 0,99%); Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân tối cao tiến hành điều tra, xử lý 390 vụ án/700 bị can (chiếm 0,04%); các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Hải quan đã tiến hành khởi tố phục vụ công tác điều tra 278 vụ án (chiếm 0,03%). Riêng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân thụ lý 951.885 vụ án/1.390.342 bị can, trong đó: số vụ án đề nghị truy tố: 591.610 vụ án/1.069.304 bị can; số vụ án đình chỉ điều tra: 19.550 vụ án/15.983 bị can; số vụ án tạm đình chỉ điều tra: 123.821 vụ án/22.757 bị can[1].

Kết quả công tác điều tra, xử lý tội phạm cho thấy, chất lượng hoạt động điều tra ngày càng được nâng lên; hoạt động phối hợp giữa công tác trinh sát và điều tra tố tụng, nhất là trong điều tra mở rộng vụ án có những chuyển biến tích cực. Nhiều chỉ tiêu về điều tra, khám phá tội phạm đạt và vượt yêu cầu của Quốc hội giao như: Tỷ lệ khám phá tội phạm xâm phạm trật tự xã hội đạt 85,69% (vượt 10,69% chỉ tiêu Quốc hội giao), án đặc biệt nghiêm trọng đạt 96,92% (vượt 6,92% chỉ tiêu Quốc hội giao); tỷ lệ thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng đạt trên 70% (cao hơn chỉ tiêu Quốc hội giao 10%)... Bên cạnh đó, đã phát hiện, điều tra khám phá nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế lớn; khẳng định quyết tâm của Đảng không có “vùng cấm” trong điều tra, xử lý các tội phạm về tham nhũng, kinh tế, chức vụ và các tội phạm khác.

Mặc dù không tổ chức Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện nhưng năng lực điều tra không bị “rút khỏi cơ sở”. Thay vào đó, một bộ phận Điều tra viên của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh được bố trí tại Công an cấp xã. Tính đến tháng 3/2026 các Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân gồm có 38.042 Điều tra viên và Cán bộ điều tra, trong đó, cấp Bộ có 583 Điều tra viên và cán bộ điều tra; cấp tỉnh có 30.229 Điều tra viên và 7.180 Cán bộ điều tra. Đặc biệt, có 17.941 Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí tại Công an cấp xã gồm 2.802 Điều tra viên là 6.804 là Phó phụ trách phòng, chống tội phạm và 8.335 là cán bộ thuộc Tổ Cảnh sát phòng, chống tội phạm Công an cấp xã. Ngoài ra có 5653 Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh bố trí tại Tổ Cảnh sát phòng, chống tội phạm Công an cấp xã. Đây là một nguồn lực rất lớn cho tuyến cơ sở đáp ứng yêu cầu tinh gọn cơ cấu tổ chức nhưng vẫn bảo đảm năng lực điều tra trực tiếp tại địa bàn[2].

Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn triển khai mô hình mới cũng cho thấy một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết như sau:

Thứ nhất, tình trạng tập trung khối lượng công việc quá lớn tại Cơ quan điều tra cấp tỉnh. Khi bỏ Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện, chức năng và nhiệm vụ điều tra trước đây của cấp huyện được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh. Điều này làm tăng đáng kể phạm vi địa bàn và khối lượng công việc của cấp tỉnh, trong khí đó năng lực, biên chế và điều kiện chưa thực sự bảo đảm, mọi quyết định tố tụng đều phải tập trung về cấp tỉnh, làm tăng áp lực cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và Điều tra viên cấp tỉnh.

Thứ hai, năng lực Điều tra viên tại Công an cấp xã chưa đồng đều. Hiện nay, năng lực thực hiện nhiệm vụ tố tụng của lực lượng Điều tra viên tại một số ít địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao, còn phụ thuộc vào sự hướng dẫn chỉ đạo của các phòng nghiệp vụ thuộc Công an cấp tỉnh.

Thứ ba, khoảng cách địa lý và phạm vi quản lý rộng làm tăng chi phí tố tụng, áp lực cho hoạt động điều tra. Do điều kiện về khoảng cách địa lý nên đội ngũ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thường xuyên phải di chuyển trên phạm vi rộng để giải quyết các vụ việc thuộc địa bàn cơ sở cũng làm gia tăng chi phí tố tụng, áp lực công việc và ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực điều tra đối với các vụ án lớn, phức tạp.

Thứ tư, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần tiếp tục hoàn thiện. Tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều như hiện nay gặp nhiều bất cập trong quan hệ với các cơ quan tư pháp như Viện kiểm sát khu vực, Tòa án nhân dân khu vực; cụ thể mối quan hệ phối hợp giữa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh và Điều tra viên, Cán bộ điều tra được bố trí tại Công an cấp xã với Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Viện kiểm sát nhân dân khu vực chưa bảo đảm tính thống nhất, ngang cấp. Trong một số trường hợp, việc phối hợp giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát chưa thật sự kịp thời, chặt chẽ; trao đổi thông tin, thống nhất quan điểm xử lý có lúc còn chậm. Đặc biệt, cơ chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra cấp trên với Điều tra viên bố trí tại Công an cấp xã và các cơ quan liên quan có thời điểm chưa nhịp nhàng.

Trên cơ sở đó, có thể tập trung vào một số giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện mô hình tổ chức Cơ quan điều tra theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả trong Dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi), gồm:

Thứ nhất, cần phân công, phân cấp rõ ràng hơn cho tuyến cơ sở. Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã có thể được Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh phân công, ủy quyền tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra đối với vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã. Để cơ chế này phát huy hiệu quả thực chất, cần tiếp tục hoàn thiện theo ba hướng cơ bản: Một là, cần xác định rõ phạm vi và tiêu chí phân công điều tra cho Điều tra viên tại Công an cấp xã. Cần quy định rõ loại tội phạm, tính chất, mức độ phức tạp của vụ án và điều kiện về năng lực Điều tra viên để xác định vụ án nào được giao cho cấp xã trực tiếp tiến hành. Hai là, phân định rành mạnh quyền hạn giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp tỉnh với Điều tra viên được phân công tại Công an cấp xã. Không chỉ xác định vụ án nào được giao mà cần quy định cụ thể trong vụ án đó, Điều tra viên cấp xã được chủ động thực hiện những hoạt động tố tụng nào, những vấn đề nào phải xin ý kiến hoặc được cấp tỉnh quyết định. Ba là, gắn phân quyền với trách nhiệm cá nhân và cơ chế kiểm soát quyền lực. Khi Điều tra viên tại Công an cấp xã được trao quyền chủ động, cần đồng thời xác định rõ trách nhiệm pháp lý của người thực hiện và trách nhiệm quản lý, chỉ đạo của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh.

Thứ hai, xây dựng nguồn nhân lực của Cơ quan điều tra theo hướng chuyên nghiệp hóa. Việc bổ nhiệm phải thực chất, bảo đảm về số lượng, chất lượng; tránh tràn lan, chạy theo chỉ tiêu mà không chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng Điều tra viên có đủ trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu công tác giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự[3]. Mặt khác, cần xây dựng tiêu chí đánh giá Điều tra viên dựa trên chất lượng giải quyết vụ án gồm: năng lực giải quyết nguồn tin; chất lượng hồ sơ; tỷ lệ vụ án phải điều tra bổ sung; số quyết định tố tụng bị hủy, sửa; việc tuân thủ thời hạn tố tụng; mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ; khả năng điều tra tội phạm công nghệ cao, tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia.

Thứ ba, tăng cường kiểm soát quyền lực trong mô hình tổ chức Cơ quan điều tra. Cần thiết lập cơ chế kiểm tra theo nhiều hình thức như kiểm tra nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp tỉnh đối với Điều tra viên tại Công an cấp xã, hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự. Bên cạnh kiểm tra sau khi vụ án xảy ra, cần tăng cường kiểm tra theo chuyên đề đối với các lĩnh vực có nguy cơ phát sinh sai phạm như tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ.

Thứ tư, đẩy mạng chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động điều tra. Một trong những điều kiện để mô hình hai cấp vận hành hiệu quả là giảm sự phụ thuộc vào khoảng cách địa lý. Cần xây dựng hệ thống quản lý điều tra thống nhất, trong đó hồ sơ, tiến độ xử lý nguồn tin, tiến độ điều tra và việc phân công nhiệm vụ được quản lý trên nền tảng số; cho phép cấp tỉnh theo dõi trực tuyến hoạt động của Điều tra viên tại Công an cấp xã; đồng thời tạo điều kiện trao đổi nhanh chóng với Viện kiểm sát.

Thứ năm, bảo đảm nguồn nhân lực tương xứng với mô hình tổ chức Cơ quan điều tra. Chú trọng, tạo điều kiện cho công tác đầu tư kinh phí, trang thiết bị, cơ sở vật chất đảm bảo cho công tác điều tra hình sự đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và các yêu cầu đặt ra trong tình hình mới.

Viết Hồng - Khoa Luật, Học viện ANND.


[1] Báo cáo số 1298/BC-BCA ngày 22/6/2026 về việc tổng kết thi hành Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)

[2] Báo cáo số 1298/BC-BCA, Tlđd.

[3] Hướng dẫn số 33/HD-BCA-V03 ngày 28/6/2025 về việc thực hiện bố trí, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Cán bộ điều tra ở Công an cấp xã; việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của Công an cấp xã.

Related Posts

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân

Định hướng sửa đổi, bổ sung luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự góp phần đảm bảo thống nhất, đồng bộ với văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế

Định hướng sửa đổi, bổ sung luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự góp phần đảm bảo thống nhất, đồng bộ với văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế

Luật Đầu tư 2025: Đột phá thể chế và tái định vị chiến lược thu hút đầu tư của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Luật Đầu tư 2025: Đột phá thể chế và tái định vị chiến lược thu hút đầu tư của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Một số điểm mới của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025

Một số điểm mới của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú năm 2025