Tin mới

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số

Ngày 11/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 125/NQ-CP, thống nhất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét bổ sung dự án Luật Định danh và xác thực điện tử vào Chương trình lập pháp năm 2026 theo đề nghị của Bộ Công an tại Tờ trình số 176/TTr-BCA ngày 03/4/2026. Bộ Công an được giao chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung, bảo đảm thực hiện đầy đủ quy trình đánh giá tác động, lấy ý kiến và soạn thảo dự án Luật. Bộ Công an đã công bố Hồ sơ dự án Luật Định danh và xác thực điện tử trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an để lấy ý kiến từ ngày 13/7 đến ngày 2/8/2026.

1b9ce874-1745-4019-b277-fb8deda5fe85.png

Theo dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử, danh tính điện tử là thông tin của một cá nhân, tổ chức, cơ quan hoặc đối tượng khác theo quy định của pháp luật trong hệ thống định danh và xác thực điện tử, cho phép xác định duy nhất đối tượng đó trên môi trường điện tử.

Định danh điện tử là hoạt động thu thập, tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh cho một đối tượng nhằm phân biệt đối tượng đó với mọi đối tượng khác trên môi trường điện tử. Mã định danh là chuỗi ký tự duy nhất gắn với đối tượng, không trùng lặp và không cấp lại; mỗi đối tượng chỉ được cấp một mã định danh quốc gia.

Định danh điện tử là hoạt động tất yếu của quản lý nhà nước trên môi trường số. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong định danh các đối tượng quan trọng, đồng thời mở cơ chế để tổ chức, doanh nghiệp đủ điều kiện cùng tham gia cung cấp dịch vụ. Hoạt động này là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo đảm tính an toàn, minh bạch cho các giao dịch của cá nhân, tổ chức trên môi trường số. Từ việc xác định danh tính của một công dân trên môi trường mạng, định danh điện tử đang được mở rộng thành một hạ tầng pháp lý và công nghệ có khả năng xác lập danh tính cho tổ chức, sản phẩm, hàng hóa, tài sản số, dữ liệu và cả giao dịch điện tử.

Trên cơ sở ý kiến góp ý, ngày 28/8/2026 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 257/NQ-CP, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện dự án Luật theo hướng xác định rõ tiêu chí đối tượng bắt buộc định danh và xác thực điện tử, thống nhất với pháp luật chuyên ngành; quy định chặt chẽ việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh, an ninh mạng; quy định rõ thời hạn lưu trữ, các loại phí, lệ phí và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Dự thảo Luật sau khi chỉnh lý gồm 8 chương, 46 điều, dự kiến trình Quốc hội khóa XVI cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 2, có hiệu lực từ ngày 01/7/2027.

Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử được xác định đặt nền móng cho một hệ sinh thái giao dịch số an toàn, minh bạch và có khả năng kiểm chứng, với những điểm mới nổi bật sau đây:

Một là, mở rộng đối tượng định danh điện tử.

Các văn bản pháp luật hiện hành như Luật Căn cước năm 2023, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 và Nghị định số 69/2024/NĐ-CP mới dừng lại ở nhóm đối tượng định danh cơ bản là cơ quan, tổ chức, cá nhân. Điều 7 dự thảo Luật mở rộng thành năm nhóm đối tượng: (1) cơ quan, tổ chức, cá nhân; (2) các đối tượng tồn tại dưới dạng vật chất (sản phẩm, hàng hóa, thiết bị và các loại tài sản vật chất khác); (3) các đối tượng tồn tại dưới dạng phi vật chất (dữ liệu và tài nguyên số, ứng dụng, phần mềm, dịch vụ số, quyền tài sản và quyền sở hữu trí tuệ, tài sản số, di sản văn hóa phi vật thể…); (4) các hoạt động, sự kiện, giao dịch, hành vi và tương tác giữa các đối tượng; (5) địa điểm, vị trí, không gian. Nhà nước trực tiếp định danh các đối tượng quan trọng như cơ quan, tổ chức, cá nhân, sản phẩm có nguy cơ cao, dữ liệu cốt lõi; đối với các đối tượng khác, tổ chức, doanh nghiệp đủ điều kiện được tham gia cung cấp dịch vụ định danh theo hình thức xã hội hóa hoặc hợp tác công tư.

Trước đây, khi nói đến định danh điện tử, chúng ta thường nghĩ đến tài khoản VNeID để chứng minh danh tính, thực hiện dịch vụ công hoặc thay thế một số giấy tờ. Dự thảo Luật lần này cho thấy tư duy quản lý đang được mở rộng về phạm vi định danh điện tử không chỉ là xác định danh tính của chủ thể mà còn xác định danh tính số của các đối tượng khác (đối tượng vật chất, phi vật chất, địa điểm, giao dịch…). Đây là bước chuyển rất quan trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Như vậy, ý nghĩa của định danh điện tử sẽ vượt xa phạm vi của một chiếc căn cước trên môi trường số. Một sản phẩm có thể có danh tính điện tử để xác định nguồn gốc, quá trình lưu thông hoặc chủ thể chịu trách nhiệm. Một tài sản có thể được gắn với chủ thể sở hữu hoặc quản lý hợp pháp. Một giao dịch có thể được xác định chính xác về chủ thể, thời gian và các thông tin liên quan. Khi đó, định danh trở thành một “môi trường tin cậy” bảo vệ các chủ thể khi xác lập các quan hệ trên môi trường số.

Hai là, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử gắn với phát triển ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) để khai thác, chia sẻ dữ liệu và cung cấp dịch vụ.

Theo dự thảo, danh tính điện tử quốc gia được lưu trữ tập trung tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu này có giá trị khai thác, sử dụng như dữ liệu gốc và phải được lưu trữ tại Việt Nam. Quy định về phát triển Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) tập trung vào 06 nhóm chức năng cốt lõi: (1) Truy cập và quản lý dữ liệu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; (2) Cấp chữ ký số và phương thức xác thực khác phục vụ dịch vụ công, chuyển đổi số, trong đó cá nhân được cấp miễn phí dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng để thực hiện dịch vụ công; (3) Cung cấp dịch vụ công; (4) Tích hợp nền tảng thanh toán quốc gia phục vụ an sinh xã hội thông qua liên kết tài khoản thanh toán, ví điện tử, thẻ ngân hàng, tài khoản tiền di động; (5) Thiết lập kênh giao tiếp số giữa Nhà nước và công dân; (6) Ghi nhận mức độ tham gia chuyển đổi số của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Các quy định này xác định rõ chức năng, mục đích, chủ thể và phương thức vận hành của Ứng dụng, qua đó làm rõ trách nhiệm quản lý của Nhà nước cũng như quyền, nghĩa vụ của chủ thể định danh khi sử dụng Ứng dụng.

Ba là, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức đối với dữ liệu định danh điện tử của mình; đồng thời quy định cụ thể các chủ thể có quyền khai thác và sử dụng dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử.

Theo Điều 44 dự thảo Luật (bản lấy ý kiến từ ngày 13/7/2026), chủ thể danh tính điện tử có các quyền, nghĩa vụ cụ thể như sau:

Quyền của chủ thể danh tính điện tử: Được đăng ký, cấp, quản lý và sử dụng danh tính điện tử theo quy định của pháp luật; được bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin danh tính điện tử và dữ liệu cá nhân trong quá trình tạo lập, xác thực và sử dụng danh tính điện tử; kiểm soát việc sử dụng danh tính điện tử của mình; quyết định phạm vi, đối tượng và thời hạn chia sẻ thông tin danh tính để thực hiện giao dịch điện tử, thủ tục hành chính, dịch vụ công và các giao dịch hợp pháp khác; được yêu cầu cập nhật, chỉnh sửa thông tin danh tính điện tử khi có sai sót hoặc thay đổi theo quy định; được thông báo kịp thời khi dữ liệu danh tính điện tử của mình bị xâm phạm; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi quyền lợi bị xâm phạm theo quy định của pháp luật.

Chủ thể danh tính điện tử có các nghĩa vụ sau: Cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ trong quá trình đăng ký và sử dụng danh tính điện tử; cập nhật kịp thời khi có thay đổi; chủ động bảo vệ thông tin danh tính điện tử, phương tiện xác thực; thông báo ngay cho tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử khi mất kiểm soát phương tiện xác thực hoặc phát hiện có người sử dụng trái phép danh tính điện tử của mình hoặc lý do khác có thể gây mất an toàn sử dụng dịch vụ.

Về khai thác dữ liệu, cơ quan, tổ chức, cá nhân được khai thác danh tính điện tử của mình và của đối tượng mình sở hữu thông qua Ứng dụng định danh quốc gia. Đối với danh tính tự chủ do tổ chức cung cấp dịch vụ tạo lập, chủ thể có quyền quyết định việc khai thác, sử dụng thông tin về danh tính điện tử của mình; cơ quan, tổ chức chỉ được khai thác thông qua đơn vị cung cấp dịch vụ khi chủ thể đã thỏa thuận lưu trữ tại hệ thống của đơn vị đó.

Đặc biệt, theo Điều 16 dự thảo Luật, đối với cá nhân và tổ chức, danh tính điện tử có giá trị tương đương việc cung cấp hoặc xuất trình giấy tờ, tài liệu chứa thông tin tương ứng trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công và các giao dịch khác. Với sản phẩm, hàng hóa, dữ liệu số, danh tính điện tử còn có thể được sử dụng để chứng minh quyền sở hữu, quyền quản lý hợp pháp; với sự kiện, giao dịch, hành vi, danh tính điện tử ghi nhận thông tin về việc một sự kiện, giao dịch, hành vi đã diễn ra tại thời gian, địa điểm nhất định.

Bốn là, chuẩn hóa hoạt động xác thực điện tử và giá trị của kết quả xác thực.

Điều 25 Dự thảo Luật quy định ba mô hình xác thực (tập trung, trung gian, độc lập) và ba mức độ xác thực. Mức 1 sử dụng một yếu tố xác thực; mức 2 sử dụng hai yếu tố thuộc nhóm tri thức và sở hữu; mức 3 sử dụng tối thiểu hai yếu tố, trong đó có ít nhất một yếu tố sinh trắc học hoặc yếu tố đặc trưng. Kết quả xác thực được ghi nhật ký, lưu trữ tối thiểu 05 năm và có thể được sử dụng làm nguồn chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng. Dự thảo nghiêm cấm các hành vi giả mạo, mua bán, cho mượn danh tính điện tử, sử dụng sinh trắc học giả hoặc công nghệ giả mạo hình ảnh, giọng nói (deepfake) để gian lận danh tính. Chủ quản nền tảng thương mại điện tử phải kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử để xác thực người bán, người bán hàng qua livestream và người tiếp thị liên kết, góp phần phòng ngừa gian lận trên môi trường mạng.

Tinh thần này cũng đã được thể hiện rất rõ trong Nghị định số 320/2026/NĐ-CP ngày 13/8/2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 quy định về định danh và xác thực điện tử, có hiệu lực từ ngày 28/9/2026. Theo đó, khi thông tin, giấy tờ đã được tích hợp trên Ứng dụng định danh quốc gia, cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công, giao dịch dân sự hoặc các hoạt động khác không được yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp hoặc xuất trình bản chính, bản sao của giấy tờ đó. Đây chính là thay đổi rất lớn về phương thức phục vụ người dân: thay vì mỗi thủ tục lại bắt đầu bằng việc yêu cầu công dân chứng minh lại những thông tin mà Nhà nước đã có, hệ thống sẽ chuyển dần sang khai thác dữ liệu đã được xác thực.

Có thể thấy, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về định danh và xác thực điện tử là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Luật Định danh và xác thực điện tử do Bộ Công an chủ trì xây dựng, khi được Quốc hội thông qua, sẽ tạo cơ sở cho việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng đồng bộ, an toàn và lấy người dân làm trung tâm. Trên nền tảng đó, Việt Nam có thể tiến tới xây dựng hạ tầng định danh quốc gia dùng chung cho Chính phủ số, tài chính - ngân hàng, thương mại điện tử, dịch vụ công, y tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội./.

Nguyễn Thị Vân Anh - Khoa Luật, Học viện ANND.

Bài viết liên quan

Những điểm mới về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Những điểm mới về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Những điểm mới cần chú ý của Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật

Những điểm mới cần chú ý của Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật

Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự

Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân