Tin mới

Những điểm mới về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 01/7/2025, Luật số 88/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính chính thức có hiệu lực thi hành. Cùng với Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025 và Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đã được điều chỉnh căn bản để thích ứng với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

 

fabb7552-5f03-4e58-bb97-21aa54e52e65.png

 Bên cạnh việc thay đổi tên gọi, chức danh và kỹ thuật phân định thẩm quyền, các quy định mới từng bước tái cấu trúc thẩm quyền xử phạt theo hướng tinh gọn, phân quyền, phân cấp, tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với mô hình tổ chức chính quyền địa phương mới. Bài viết phân tích các điểm mới về thẩm quyền xử phạt theo Luật số 88/2025/QH15 và Nghị định số 189/2025/NĐ-CP, đánh giá mức độ tương thích của các quy định này với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và nêu một số lưu ý khi áp dụng.

1. Yêu cầu điều chỉnh thẩm quyền xử phạt khi chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Trước ngày 01/7/2025, Luật Xử lý vi phạm hành chính được thiết kế trong điều kiện hệ thống chính quyền địa phương gồm 03 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định tương ứng thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh. Theo khoản 1 Điều 38, Chủ tịch UBND cấp xã chỉ được phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa của lĩnh vực tương ứng nhưng không quá 5.000.000 đồng. Cách thiết kế này về cơ bản phù hợp với mô hình chính quyền 03 cấp.  Khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 xác lập mô hình chính quyền địa phương 02 cấp gồm cấp tỉnh và cấp xã, việc giữ nguyên cơ chế thẩm quyền cũ sẽ dẫn đến khoảng trống về chủ thể xử phạt đối với phần thẩm quyền vốn được giao cho Chủ tịch UBND cấp huyện và các chức danh cấp huyện.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải đồng thời giải quyết ba vấn đề: không để gián đoạn hoạt động xử lý vi phạm; không làm phát sinh khoảng trống hoặc chồng chéo về thẩm quyền; và phải bảo đảm cấp chính quyền được giao nhiệm vụ quản lý có đủ công cụ pháp lý để thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

2. Những điểm mới về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Luật số 88/2025/QH15 bước điều chỉnh quan trọng nhằm đáp ứng các yêu cầu đó. Các điểm mới được phân tích theo sáu nội dung dưới đây.

2.1. Xác lập danh mục chủ thể có thẩm quyền xử phạt tại Điều 37a

Luật số 88/2025/QH15 bổ sung Điều 37a về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời bãi bỏ các điều từ Điều 38 đến Điều 51 vốn quy định trực tiếp mức phạt của từng chức danh.

Theo khoản 1 Điều 37a, người có thẩm quyền xử phạt bao gồm nhiều nhóm chủ thể, trong đó trước hết là Chủ tịch UBND các cấp (điểm a); bên cạnh đó là thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thanh tra viên, trưởng đoàn thanh tra, các chức danh thuộc Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Thuế, Quản lý thị trường, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Thi hành án dân sự và nhiều cơ quan, lực lượng chuyên ngành khác; người có thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm toán nhà nước được quy định tại các điểm m, n và o. Khoản 2 Điều 37a giao Chính phủ quy định chi tiết các chức danh có thẩm quyền xử phạt và thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả của từng chức danh thuộc các điểm từ a đến l khoản 1; khoản 3 giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định đối với các chức danh thuộc các điểm m, n và o. Nghị định số 189/2025/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở khoản 2 Điều 37a.

Điểm đáng chú ý là Luật không còn ấn định trực tiếp thẩm quyền xử phạt theo mô hình “cấp xã – cấp huyện – cấp tỉnh” như trước đây. Thay vào đó, thẩm quyền được thiết kế theo cấp chính quyền kết hợp với chức năng, lĩnh vực quản lý nhà nước và tính chất của chủ thể thực thi quyền lực; mức phạt cụ thể của từng chức danh do văn bản quy định chi tiết xác định.

Thay đổi này có tính cấu trúc khi cấp huyện không còn là một cấp chính quyền, pháp luật không thể đơn giản “xóa” thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện mà phải tái phân bổ thẩm quyền đó cho các chủ thể phù hợp trong mô hình mới.

2.2. Mở rộng thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã

 Nội dung này thể hiện rõ sự thích ứng của Luật xử lý vi phạm hành chính với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Để bảo đảm Luật được thực thi thống nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025, có hiệu lực cùng ngày với Luật số 88/2025/QH15. Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định (Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân), Chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu có quyền:

+ Phạt cảnh cáo;

+ Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;

+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

+ Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

So mức “10% nhưng không quá 5.000.000 đồng” theo Điều 38 trước khi sửa đổi, đây là bước mở rộng lớn về thẩm quyền của cấp xã. Cấp xã là cấp chính quyền gần dân, sát dân, trực tiếp quản lý địa bàn và thường là nơi phát hiện vi phạm đầu tiên. Nếu cấp xã chỉ có thẩm quyền hạn chế nhưng lại phải chuyển phần lớn vụ việc lên cấp trên thì việc tổ chức chính quyền theo hướng tinh gọn sẽ không đạt được mục tiêu đề ra.

Việc tăng thẩm quyền cho cấp xã gắn quyền hạn với nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý địa bàn.

2.3. Cơ chế chuyển tiếp đối với thẩm quyền vốn thuộc cấp huyện

Luật số 88/2025/QH15 quy định cơ chế chuyển tiếp tại khoản 3 Điều 3(Quy định chuyển tiếp). Theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND cấp huyện; Trưởng Công an cấp xã thực hiện thẩm quyền xử phạt của Trưởng Công an cấp huyện theo nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, cho đến khi có quy định của Chính phủ thay thế hoặc nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành. Nghị định số 189/2025/NĐ-CP có hiệu lực cùng ngày với Luật số 88/2025/QH15, vì vậy khi viện dẫn quy định chuyển tiếp này cần xác định rõ mối quan hệ giữa thẩm quyền theo Nghị định số 189/2025/NĐ-CP với thẩm quyền còn ghi trong các nghị định xử phạt chuyên ngành chưa được sửa đổi.

Quy định này có ý nghĩa pháp lý trên ba phương diện:

Một là, bảo đảm tính liên tục của quyền lực hành chính. Việc thay đổi mô hình tổ chức không làm gián đoạn hoạt động xử lý vi phạm.

Hai là, bảo đảm tính liên tục của trách nhiệm quản lý nhà nước. Khi cấp huyện không còn, trách nhiệm không bị bỏ trống mà được chuyển giao cho chủ thể phù hợp.

Ba là, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức. Người vi phạm không phải chờ đợi do thay đổi tổ chức bộ máy; cơ quan nhà nước vẫn có căn cứ pháp lý để giải quyết vụ việc.

Quy định chuyển tiếp thể hiện nguyên tắc thay đổi tổ chức không đồng nghĩa với gián đoạn trách nhiệm công vụ.

2.4. Phân định thẩm quyền giữa chính quyền địa phương và các chức danh chuyên ngành

Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định cụ thể thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp xã và nhiều chức danh thuộc các lực lượng chuyên ngành.

Theo đó:

+ Chủ tịch UBND cấp xã: phạt tiền đến 50% mức tối đa của lĩnh vực tương ứng (khoản 1 Điều 5);

+ Chủ tịch UBND cấp tỉnh: phạt tiền đến mức tối đa của lĩnh vực tương ứng (khoản 2 Điều 5);

+ Giám đốc sở: phạt tiền đến 80% mức tối đa của lĩnh vực tương ứng (khoản 2 Điều 6);

+ Trưởng Công an cấp xã: phạt tiền đến 50% mức tối đa của lĩnh vực tương ứng và được áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định (khoản 4 Điều 8).

Pháp luật mới không tập trung toàn bộ thẩm quyền về UBND cấp xã. Cơ chế phân định thẩm quyền được thiết kế theo hướng kết hợp giữa thẩm quyền quản lý địa bàn và thẩm quyền chuyên ngành.

Cách tiếp cận này hợp lý vì có những vi phạm gắn trực tiếp với đời sống địa phương có thể xử lý hiệu quả ở cấp xã, nhưng cũng có những lĩnh vực đòi hỏi kiến thức và nghiệp vụ chuyên ngành cao thì phải giao cho cơ quan chuyên môn hoặc lực lượng chuyên trách.

2.5. Bảo đảm tính liên tục của thẩm quyền khi sắp xếp tổ chức bộ máy (Điều 53)

Một điểm mới có giá trị pháp lý và thực tiễn cao là việc sửa đổi Điều 53 Luật Xử lý vi phạm hành chính về trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt thay đổi tên gọi, nhiệm vụ, quyền hạn.

Theo đó: Khoản 1 Điều 53 quy định nếu chức danh có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Chính phủ thay đổi tên gọi nhưng không thay đổi nhiệm vụ, quyền hạn thì thẩm quyền xử phạt được giữ nguyên. Khoản 2 Điều 53 quy định nếu chức danh có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Chính phủ thay đổi nhiệm vụ, quyền hạn do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước thì thẩm quyền xử phạt được tiếp tục thực hiện bởi chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đó tương ứng với từng lĩnh vực quản lý nhà nước.

Quy định này thể hiện tư duy lập pháp chủ động thích ứng với cải cách tổ chức bộ máy. Ngoài việc giải quyết sự thay đổi hiện tại, quy định tạo cơ chế để hệ thống xử phạt không bị “đóng khung” vào tên gọi của một cơ quan hoặc chức danh cụ thể.

Đó là điều kiện để bảo đảm tính ổn định của pháp luật trong quá trình tiếp tục tinh gọn, sắp xếp cơ quan hành chính nhà nước.

2.6. Giao quyền xử phạt cho cấp phó (Điều 54)

Theo khoản 1 Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã được sửa đổi, người có thẩm quyền xử phạt là cấp trưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được quy định tại Điều 37a có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Cơ chế giao quyền cho cấp phó đã có tại Điều 54 trước khi sửa đổi; điểm mới là phạm vi người được giao quyền gắn với danh mục chủ thể tại Điều 37a, thay cho các điều từ Điều 38 đến Điều 51 đã bị bãi bỏ.

Quy định này có ý nghĩa thực tiễn trong điều kiện khối lượng công việc của chính quyền cấp xã tăng lên.

Nếu tăng thẩm quyền cho cấp xã nhưng mọi quyết định đều phải tập trung tuyệt đối vào một cá nhân thì nguy cơ quá tải là khó tránh khỏi. Việc cho phép giao cấp phó thực hiện thẩm quyền tạo cơ chế phân công linh hoạt, góp phần bảo đảm xử lý vụ việc nhanh chóng.

Việc giao thẩm quyền phải nằm trong phạm vi luật định, bảo đảm nguyên tắc đúng thẩm quyền, đúng trình tự, đúng trách nhiệm.

3. Đánh giá tính phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Các quy định về thẩm quyền xử phạt trong Luật Xử lý vi phạm hành chính sau sửa đổi và Nghị định số 189/2025/NĐ-CP tương thích với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tính phù hợp có thể nhìn nhận trên ba phương diện

Một là, phù hợp về tổ chức bộ máy: Luật số 72/2025/QH15 xác lập chính quyền địa phương 02 cấp gồm cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời yêu cầu phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, tránh trùng lặp, chồng chéo và thực hiện nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Hai là, phù hợp về phân quyền và trách nhiệm: Khi cấp xã được giao nhiều nhiệm vụ quản lý nhà nước hơn thì phải được trao công cụ pháp lý tương ứng. Việc nâng thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã lên đến 50% mức tối đa của lĩnh vực bảo đảm nguyên tắc: nhiệm vụ phải đi đôi với quyền hạn, quyền hạn phải gắn với trách nhiệm.

Ba là, phù hợp về yêu cầu quản trị gần dân, sát dân: Phần lớn vi phạm hành chính phát sinh từ các quan hệ quản lý cụ thể trên địa bàn. Nếu vụ việc thuộc phạm vi xử lý của chính quyền cơ sở nhưng phải chuyển qua nhiều tầng nấc sẽ làm tăng thời gian, chi phí và giảm hiệu quả quản lý. Trao thẩm quyền thực chất cho cấp xã giúp rút ngắn quy trình, tăng khả năng phản ứng nhanh và nâng cao trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu chính quyền cơ sở.

Phân quyền không đồng nghĩa với phân tán quyền lực. Việc tăng thẩm quyền cho cấp xã được đặt trong một hệ thống kiểm soát thông qua quy định về thẩm quyền chuyên ngành, trách nhiệm của người có thẩm quyền, trình tự thủ tục xử phạt, cơ chế kiểm tra, thanh tra và giám sát. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 cũng xác định chính quyền địa phương tự chủ trong phạm vi được phân quyền nhưng phải chịu trách nhiệm và chịu sự kiểm tra, giám sát về tính hợp hiến, hợp pháp.

Do đó, mô hình mới phân bổ quyền lực theo hướng hợp lý hơn chứ không dồn toàn bộ thẩm quyền về cấp xã: cấp xã giải quyết những vấn đề thuộc địa bàn và khả năng xử lý trực tiếp; cấp tỉnh giải quyết những vấn đề có phạm vi, tính chất và mức độ cao hơn; cơ quan chuyên ngành thực hiện thẩm quyền đối với những lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn sâu.

4. Một số lưu ý khi áp dụng

Trong quá trình triển khai, mỗi cơ quan, đơn vị và người có thẩm quyền cần quán triệt nguyên tắc “đúng thẩm quyền – đúng trình tự – đúng đối tượng – đúng hành vi – đúng mức xử phạt”; đồng thời chủ động nghiên cứu các nghị định xử phạt chuyên ngành và Nghị định số 189/2025/NĐ-CP để xác định chính xác phạm vi thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể.

Khi một nghị định xử phạt chuyên ngành còn ghi thẩm quyền của chức danh cấp huyện, người áp dụng cần đối chiếu đồng thời khoản 3 Điều 3 Luật số 88/2025/QH15, Điều 53 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 189/2025/NĐ-CP để xác định chức danh tiếp nhận thẩm quyền. Mức phạt tiền của Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng Công an cấp xã và Giám đốc sở được xác định theo tỷ lệ phần trăm so với mức tiền phạt tối đa của lĩnh vực tương ứng tại Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính, nên cần xác định đúng lĩnh vực của hành vi trước khi xác định thẩm quyền.

Việc sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2025 về thẩm quyền xử phạt là một bước điều chỉnh có tính hệ thống, nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.

Trong mô hình mới, cấp xã được xác định là cấp chính quyền trực tiếp, gần dân, sát dân; vì vậy, việc tăng đáng kể thẩm quyền xử phạt cho Chủ tịch UBND cấp xã là bước đi có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Đồng thời, việc duy trì hệ thống thẩm quyền chuyên ngành của Công an, Hải quan, Thuế, Quản lý thị trường, Kiểm lâm, Kiểm ngư, Thanh tra và các cơ quan chuyên môn bảo đảm rằng quá trình phân quyền không làm suy giảm tính chuyên nghiệp của hoạt động xử phạt.

Cơ chế mới chuyển từ tư duy “phân quyền theo tầng nấc hành chính” sang “phân định thẩm quyền theo cấp chính quyền, địa bàn, chức năng và lĩnh vực quản lý”. Sự chuyển đổi này là cơ sở của tính phù hợp của pháp luật xử lý vi phạm hành chính với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

Mục tiêu của sự thay đổi là đưa quyền lực nhà nước đến đúng nơi cần thực hiện, gắn quyền hạn với trách nhiệm, rút ngắn khâu trung gian, nâng cao hiệu lực quản lý và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức./.

Hồ Hoàng Giang - Khoa Luật, Học viện ANND.

Bài viết liên quan

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số

Những điểm mới cần chú ý của Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật

Những điểm mới cần chú ý của Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật

Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự

Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân

Nội dung cơ bản của Thông tư số 150/2026/TT-BCA quy định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính phải kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, so sánh trước khi đưa vào sử dụng trong Công an nhân dân