Tin mới

Quy định về luật sư công tại Việt Nam - tư duy mới trong hoàn thiện thể chế tư pháp và bảo vệ tài sản công

Thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tăng cường quản trị công hiện đại, việc thành lập một đội ngũ chuyên trách bảo vệ lợi ích pháp lý của Nhà nước, bảo vệ tài sản công và tham mưu pháp lý nội bộ cho các cơ quan hành chính trở nên vô cùng cấp thiết. Trước thực trạng nguy cơ tranh tụng quốc tế, tranh chấp tài sản công cũng như yêu cầu nâng cao tính hợp pháp trong ban hành văn bản hành chính, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028 (khoản 1 Điều 12). Để triển khai Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP ngày 21/9/2026 (có hiệu lực từ ngày 01/10/2026) quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16, chính thức đưa chế định luật sư công vào vận hành áp dụng.

Việc quy định về luật sư công đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị nhà nước, bổ sung vào cơ chế tham mưu pháp chế truyền thống một mô hình cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, chuyên trách phục vụ khu vực nhà nước. Khu vực nhà nước được hiểu gồm cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức do Nhà nước thành lập hoặc đầu tư và doanh nghiệp nhà nước (khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 24/2026/QH16). Khác với hoạt động Luật sư theo quy định của Luật Luật sư hiện nay, quy định về luật sư công có một số điểm chú ý sau:

Chức danh luật sư công không phải là một ngạch công chức riêng. Theo khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 24/2026/QH16, luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân hoặc người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước thuộc các cơ quan, tổ chức tham gia thí điểm, được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và doanh nghiệp nhà nước. Những nhân sự này tiếp tục giữ nguyên vị trí công tác hiện tại, đồng thời thực hiện công việc của luật sư công; thủ trưởng cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bố trí, phân công công việc bảo đảm để luật sư công hoàn thành cả nhiệm vụ pháp lý được giao và nhiệm vụ của vị trí công tác (khoản 3 Điều 7). Bên cạnh nguồn nhân sự sẵn có, cơ quan, tổ chức thí điểm được áp dụng chính sách thu hút nhân tài để tuyển dụng luật sư, chuyên gia, nhà khoa học, luật gia có kinh nghiệm (khoản 1 Điều 11).

Về tiêu chuẩn luật sư công: Để trở thành luật sư công, nhân sự bắt buộc phải đáp ứng đồng thời bốn tiêu chuẩn nghiêm ngặt theo khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 24/2026/QH16 gồm: thuộc một trong các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân hoặc người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 2; có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính; có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật Luật sư (Điều 10 Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012); có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc có kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn, giải quyết các vụ việc pháp lý phức tạp theo quy định của Chính phủ.

Về phạm vi và giới hạn hoạt động chuyên môn: Luật sư công được giao thực hiện các nhiệm vụ có tính chất pháp lý đặc thù nhằm phục vụ trực tiếp cho chính cơ quan, tổ chức nơi mình công tác; trường hợp cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi thí điểm có văn bản đề nghị, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý luật sư công có quyền cử hoặc từ chối cử luật sư công tham gia giải quyết vụ việc (khoản 1 Điều 9). Phạm vi công việc của luật sư công được xác định tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 24/2026/QH16, bao gồm: tư vấn, đại diện, tham gia tố tụng và giải quyết tranh chấp trong nước, quốc tế trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, hành chính, dân sự, kể cả trong giai đoạn thi hành án dân sự, thi hành án hành chính; tư vấn pháp lý trong quá trình xây dựng, triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội; tư vấn, tham gia giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài và các công việc có tính chất pháp lý khác trong khu vực nhà nước. Tuy nhiên, phạm vi hoạt động của luật sư công không bao gồm hoạt động trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và không trùng lặp với hoạt động pháp chế của cơ quan, tổ chức (khoản 2 Điều 7). Nhằm bảo đảm sự tập trung tối đa nguồn lực phục vụ lợi ích công, phòng ngừa tiêu cực và triệt tiêu mọi nguy cơ xung đột lợi ích giữa trách nhiệm công vụ với lợi ích cá nhân, khung pháp lý thiết lập quy định nghiêm ngặt: luật sư công tuyệt đối không được phép cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài khu vực nhà nước (điểm a khoản 1 Điều 4). Vi phạm quy định này là một trong các căn cứ thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư (khoản 3 Điều 6).

Về đào tạo nghề luật sư cho người muốn trở thành luật sư công: Người có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư với thời gian mười hai tháng (khoản 1, khoản 2 Điều 4 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP). Đối với các nhân sự có hàm lượng chuyên môn hoặc thâm niên vượt trội như giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; người đã từng là thẩm phán Tòa án nhân dân bậc 2, bậc 3, kiểm sát viên trung cấp, cao cấp, điều tra viên trung cấp, cao cấp, chấp hành viên trung cấp, cao cấp, thẩm tra viên chính, cao cấp; chuyên viên, pháp chế viên, thanh tra viên, nghiên cứu viên, giảng viên ngạch chính và ngạch cao cấp trong lĩnh vực pháp luật, pháp luật cho phép áp dụng cơ chế miễn đào tạo (khoản 3 Điều 4 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP). Cần lưu ý, người đang là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, thẩm tra viên, kiểm tra viên, chấp hành viên không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư (khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 24/2026/QH16), vì vậy cơ chế miễn đào tạo đối với nhóm chức danh tư pháp chỉ áp dụng cho người đã từng giữ các chức danh này. Thời gian tập sự hành nghề luật sư công được phân loại linh hoạt là 04 tháng, 06 tháng hoặc 12 tháng tùy thuộc vào ngạch công chức và thời gian công tác thực tế (khoản 2 Điều 5 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP). Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật, người đã từng là thẩm phán bậc 2, bậc 3, kiểm sát viên trung cấp, cao cấp, điều tra viên trung cấp, cao cấp, chấp hành viên cao cấp, thẩm tra viên cao cấp, trợ giúp viên pháp lý hạng I và người đang giữ ngạch cao cấp trong lĩnh vực pháp luật được miễn tập sự (Điều 6 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP). Sau khi hoàn thành thời gian tập sự và đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp tổ chức (Điều 11 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP), người tham gia sẽ được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo đề nghị của cơ quan, tổ chức thí điểm (khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 24/2026/QH16; Điều 12 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP). Tiếp đó, Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư tại địa phương có trách nhiệm ra quyết định tiếp nhận gia nhập Đoàn Luật sư cho luật sư công trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (Điều 14 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP). Việc tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và được cấp Thẻ luật sư là nghĩa vụ của luật sư công (khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 24/2026/QH16).

Về phạm vi thí điểm áp dụng luật sư công gồm: 08 Bộ (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng) và 10 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Đồng Nai và các tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Lâm Đồng) (khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 24/2026/QH16).

Về chế độ chính sách đối với luật sư công: Ngoài tiền lương và các chế độ theo vị trí công tác, luật sư công được hưởng chế độ hỗ trợ hằng tháng như cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan có vị trí việc làm xây dựng pháp luật, pháp chế thuộc lực lượng vũ trang theo Nghị quyết số 197/2025/QH15; trường hợp đồng thời thuộc diện hưởng nhiều khoản hỗ trợ hằng tháng thì chỉ được hưởng một mức cao nhất (khoản 1 Điều 10). Khi tham gia giải quyết vụ, việc, luật sư công được hưởng khoản tiền bồi dưỡng bằng 0,5 lần mức lương cơ sở cho 01 buổi làm việc (khoản 2 Điều 10). Các khoản hỗ trợ hằng tháng và bồi dưỡng này không dùng để tính đóng, hưởng bảo hiểm xã hội; thu nhập từ việc thực hiện công việc của luật sư công được miễn thuế thu nhập cá nhân (khoản 3 Điều 10). Đặc biệt, Nghị quyết số 24/2026/QH16 quy định cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý cho luật sư công trong trường hợp đã thực hiện đầy đủ các quy trình, quy định liên quan, không tư lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng thiệt hại vẫn xảy ra do rủi ro khách quan (điểm e khoản 1 Điều 8).

Như vậy, quy định về thí điểm luật sư công có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro pháp lý cho Nhà nước. Việc này giúp các cơ quan chính quyền chủ động ứng phó, giải quyết triệt để các tranh chấp hợp đồng, nguy cơ khiếu kiện hành chính và các vụ tranh tụng đầu tư quốc tế ngay từ giai đoạn sơ khởi. Mô hình này đồng thời góp phần bảo vệ nguồn vốn và tài sản công một cách minh bạch, chuyên nghiệp hơn. Những kết quả tổng kết thực tiễn từ quá trình thí điểm theo Nghị quyết số 24/2026/QH16 và Nghị định số 364/2026/NĐ-CP (Chính phủ có trách nhiệm tổng kết việc thực hiện theo khoản 2 Điều 11 Nghị quyết) sẽ là tiền đề thực chứng quan trọng để Quốc hội xem xét việc tiếp tục thực hiện chế định luật sư công sau ngày 30/9/2028, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và luật hóa toàn diện chế định này trong Luật Luật sư sửa đổi thời gian tới, tiếp tục khẳng định quyết tâm hoàn thiện thể chế tư pháp và nâng cao hiệu quả quản trị công trong thời kỳ mới./.                        

Nguyễn Doãn Phương - Khoa Luật, Học viện ANND.

Bài viết liên quan

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số

Định danh điện tử - Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn mực của xã hội số

Những điểm mới về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Những điểm mới về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Những điểm mới cần chú ý của Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật

Những điểm mới cần chú ý của Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật

Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự

Những điểm mới của Nghị định 282/2025/NĐ-CP và Nghị định 347/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự